Thuế GTGT đối với hoạt động bán tài sản thế chấp tại các tổ chức tín dụng

Một trong những nội dung mới về thuế giá trị gia tăng (GTGT) được quy định bổ sung tại Thông tư 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài chính có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2012 là vấn đề thuế GTGT đối với hoạt động bán tài sản sử dụng để đảm bảo tiền vay (hay còn gọi là tài sản thế chấp) tại các tổ chức tín dụng.

Theo quy định này thì chính sách thuế GTGT khi bán tài sản thế chấp tùy thuộc vào việc tài sản thế chấp đó là thuộc sở hữu của đối tượng nào.

Trường hợp thứ nhất là khi tài sản thế chấp thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc đã được chuyển quyền sở hữu cho tổ chức tín dụng thì khi bán tài sản này phải chịu thuế GTGT, trừ trường hợp tài sản đó là hàng hoá không chịu thuế GTGT quy định tại Điều 4 Thông tư 06/2012/TT-BTC. Điều này được quy định tại Tiết a, Khoản 8, Điều 5 Thông tư 06/2012/TT-BTC như sau:

“Tài sản sử dụng để đảm bảo tiền vay của người nộp thuế GTGT hoặc đã được chuyển quyền sở hữu sang bên cho vay khi bán phải chịu thuế GTGT, trừ trường hợp là hàng hoá không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 4 Thông tư này.”

Chẳng hạn như trường hợp của Doanh nghiệp X là một doanh nghiệp thuộc đối tượng nộp thuế GTGT vì yêu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh đã sử dụng toàn bộ nhà xưởng và quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của mình làm tài sản thế chấp để vay vốn tại một tổ chức tín dụng là Ngân hàng Y. Trường hợp khi đến hạn Doanh nghiệp X không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng Y sẽ thực hiện việc bán tài sản thế chấp (bao gồm quyền sử dụng đất và nhà xưởng, công trình xây dựng trên đất) để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, hoạt động bán tài sản thế chấp là nhà xưởng, công trình xây dựng trên đất thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất thuế GTGT là 10%; còn hoạt động bán tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất  thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT do quyền sử dụng đất là một trong số các loại hàng hoá không chịu thuế GTGT theo quy định tại Khoản 6, Điều 4 Thông tư 06/2012/TT-BTC.

Trường hợp thứ hai là khi tài sản thế chấp cho ngân hàng thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì khi bán phát mại tài sản không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.

Ví dụ như đơn vị A là một tổ chức không kinh doanh hoặc ông bà B là cá nhân không kinh doanh có thực hiện thế chấp một xe ô tô cho ngân hàng để vay tiền. Khi đơn vị A hoặc ông bà B không có khả năng trả nợ, ngân hàng phải bán phát mại tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô để thu hồi nợ thì khoản tiền thu được từ bán phát mại chiếc ôtô thế chấp nêu trên không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Điều này được quy định tại Khoản 4, Điều 5 Thông tư 06/2012/TT-BTC như sau:

“4. Tổ chức, cá nhân không kinh doanh, không phải là người nộp thuế GTGT thì không phải kê khai, tính thuế giá trị gia tăng khi bán tài sản, kể cả trường hợp bán tài sản đang sử dụng để bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng.”

Quy định về thuế GTGT khi bán phát mại tài sản thế chấp của tổ chức tín dụng là một nội dung mới chưa được đề cập đến trong các văn bản hướng dẫn, quy định về thuế GTGT trước đây. Vì vậy các cơ sở kinh doanh nhất là các ngân hàng, tổ chức tín dụng cần đặc biệt lưu ý trong việc kê khai, tính nộp thuế GTGT theo đúng quy định trên khi phát sinh hoạt động bán phát mại tài sản thế chấp của người vay./.